Archive

Posts Tagged ‘Thuật ngữ marketing’

Tìm hiểu về event logistics

Banhbeo’s blog –  Điều gì khác nhau giữa 1 tiệc nướng ngoài trời với một nhóm bạn và một festival cho nửa triệu người tham dự. Trên nguyên lý là không có gì khác nhau cảm vì ở cả 2 event người ta đều đến gởi xe, trò chuyện, an toạ, ăn uống… và có những kỷ niệm đẹp về event.

Event logistics tốt làm nên một event thành công.

* Chỉ có Event management là chưa đủ!
* Quan tâm đến Event logistics nữa sẽ tốt hơn.
* Sự chuyển giao chặt chẽ giữa các nguyên tắc trong event logistics là nền móng cho mọi event.

Những áp dụng giống nhau giữa tiệc nướng ngoài trời và festival: Nếu mà event đã diễn ra rồi, không có sự thay đổi nào có thể làm nó tốt hơn. Ví dụ như việc rót bia, người chủ xị có thể dùng nụ cười để khoả lấp sự bối rối, đeo nhẫn lên tay hoặc thực hiện kế hoạch khẩn cấp (nếu có sẵn) hay ngay từ đầu đã cố gắng giữ cho nó chạy trơn tru. Sự thành công của bất cứ thể loại event nào phụ thuộc chủ yếu vào việc lên kế hoạch và chuẩn bị thật chu đáo, chuyên nghiệp, có cả kế hoạch B cho những trường hợp phát sinh đột xuất.

Bởi vì event là công cụ marketing nên một công ty bia lớn thường xuyên tài trợ cho lều VIP ở 1 giải đấu tennis hạng sang. Tất nhiên những nhân viên nhà máy bia sẽ không phải là người đứng sau bàn buffet mà nhà cung cấp sẽ chịu trách nhiệm về đồ ăn, thức uống, nhân viên phục vụ. Nếu để xảy ra cảnh lộn xộn về giờ giấc và quy trình vận hành, thì khách VIP sẽ không biết nhà cung cấp là ai để mà than phiền, vì vậy mà mọi tội vạ đổ lên đầu sẽ đổ lên đầu công ty bia – công ty mà logo quảng cáo trải dài trên 4 mặt lều.

Khi mà hầu hết các công ty coi trọng event hướng đến khách hàng như một công cụ marketing hiệu quả, họ cũng chấp nhận đặt lên bàn cân hiệu quả của nó, có thể là tốt hay là kém hiệu quả. Yêu cầu của khách tham dự thì ngày càng tăng và họ có xu hướng không bỏ qua cả những sơ suất nhỏ nhất từ nhà tổ chức. Với những nguyên nhân này xem ra event management không thể làm được tất cả cho event của bạn.

Chúng ta đang nói về vấn đề hậu cần trong event. Để có thể “nâng khăn sửa túi” cho event management làm nênnhững event thành công, một phần không thể thiếu của event đã ra đời, người ta gọi đó là event logistics.

Một cách dễ hiểu, event logistics bao hàm việc lập kế hoạch, tổ chức và kiểm soát tốt đồ đạc, con người, dòng thông tin trước, trong và sau event.

Chúng ta nên xác định rằng những trục trặc trong event thường không thể nhìn thấy bằng phương pháp checklist và rất khó để kiểm soát được. Vì vậy hãy để những con người chu đáo và chuyên nghiệp lo phần hậu cần trong event management.

(Dịch từ supplyinstitute.org) – Bài viết cho Event Channel- chuyên đề tổ chức sự kiện

Thuật ngữ trong tổ chức event (phần 2)

AV system: audiovisual system: hệ thống nghe nhìn, tiếng Việt hay quen gọi là hệ thống âm thanh ánh sang

Caterer:
Nhà cung cấp (thực phẩm), chủ khách sạn

Hidden cost:
Chi phí ngầm

Celebrity:
Người nổi tiếng

Crew: Đội, ví dụ programming crew, serving crew, facilities crew…

Bubble machine:
máy thổi bong bóng xà phòng

Streamer: Cờ đuôi nheo

Traffic flow: Lưu lượng giao thông

Strip light: Đèn huỳnh quang

Strobe light: đèn cân lửa (chớp chớp như đèn cấp cứu)

Flash light: đèn flash

Follow light: Đèn folo, đèn chiếu tập trung công suất lớn, dùng cho sân khấu

scoop light: đèn folo đảo

spot light: đèn spot, đèn tụ

Light bulb: bóng đèn tròn

Marquee: Nhà bạt lớn, hộp đèn chữ chạy

Industrial marquee: nhà bạt công nghiệp

stage platform:
Sàn sân khấu

Usher: Người dẫn chỗ

Name tags: Thẻ đeo

Site plan:
sơ đồ địa điểm/ Floor plan: mặt bằng

Generator: máy phát điện

electrical outlet: Chỗ cắm điện

electrical hookup: đi dây điện

sprinkler system: hệ thống fun nước

Lectern/podium:
bục để tài liệu để phát biểu trên sân khấu

Black electrical tape: băng keo đen quấn dây điện/transparent tape: băng keo trong

Red rope barrier: vật chắn dung để ngăn các khu vực, nối với nhau bằng các dây nhung đỏ

three prong converter: Ổ cắm 3 chấu

Walkie – talkie: bộ đàm

Staple gun: Máy dập kim, để dập bìa, ván ép

Trash bag: túi nylon đựng rác

Live statue: nhân tượng (tượng do người thật hóa trang thành)

Electrical confetti:
pháo sáng (dung trên sân khấu, ko phải pháo bông)/ electrical confetti canon: máy bắn pháo sang

Leftover food
: đồ ăn dư

Lost and found place:
Nơi nhận đồ mất

Circuit breaker:
cầu dao điện

Soundproof wall:
tường cách âm

Rehearsal:
Tổng duyệt trước chương trình

Tarp
: vải bạt

Ply wood:
ván ép

Power plug/power splitter:
Ổ chia điện

Die cut: bế (cắt theo khuôn), ví dụ die cut standee, die cut card…

Emotional marketing – quy luật của trái tim

14/05/2008 11 comments

Nhân dịp đi xem Margroup tổ chức hội thảo về Marketing cảm xúc (emotional marketing), về nhà viết 1 bài về đề tài này. Tầm quan trọng của emotional marketing nhiều người đã nghiên cứu và báo cáo lại rồi, nên người viết sẽ không sa đà vào dẫn nhập lý thuyết và chứng minh lại nữa, tớ chỉ ghi chép lại những gì thực tế diễn ra trên thị trường Việt Nam theo những gì mình quan sát được.

Vì con người là động vật giàu cảm xúc

Khi quyết định mua sản phẩm gì, khách hàng sẽ so đo, cân nhắc giữa kiểu dáng, tính năng, giá cả…để tìm cái phù hợp nhu cầu của mình nhất. Nhưng nếu đứng trước hai sản phẩm “ngang cơ” về tính năng, giá cả thì sao? Thực tế cho thấy sản phẩm nào làm người mua thấy có cảm tình hơn thì họ sẽ lấy sản phẩm đó.

Bi kịch là khách hàng đang ngày càng kém trung thành, khi mà trước họ là các kệ hàng hóa là ngồn ngộn các sản phẩm cùng loại với những tính năng “hay, tốt như nhau”, chưa kể nào là khuyến mãi, hậu mãi các kiểu. Điều duy nhất có thể giữa chân họ là sự trung thành với nhãn hiệu, có nó, xác suất chuyển đổi sang xài nhãn hiệu cạnh tranh khác sẽ giảm.

Vậy bài toán của chúng ta là làm sao cho khách hàng “yêu” được mình. Thế giới cảm xúc của con người là một nùi phức tạp, biết khách hàng muốn gì, cần gì và khuấy động đúng những cảm xúc cần thiết chính là chìa khóa để người làm marketing đưa sản phẩm của mình vào trái tim khách hàng, đó cũng là “thuốc đề kháng” tốt để cách ly họ với đối thủ của chúng ta

Ở Việt Nam, emotional marketing không phải điều gì quá mới mẻ, mà từ trước đến giờ – không cần biết định nghĩa đã thành hình hay chưa – nhiều hoạt động marketing đã được nỗ lực xây dựng để trang giành tình cảm của khách hàng về mình.

Vĩ mô hóa vấn đề thì có Trung Nguyên thì đánh vào khía cạnh lòng tự hào dân tộc, kêu gọi người tiêu dùng ủng hộ hàng Việt Nam. Tuy có người ủng hộ, kẻ chê bai nhưng không thể phủ nhận những gì Trung Nguyên đã làm nhiều người cảm thấy tự hào về thương hiệu Việt này,và có cái để ta lấy làm ví dụ về emotional marketing nữa chứ. Hoành tráng không kém là Nutifood, Biti’s … cũng nhấn mạnh vào tinh thần người Việt để khơi dậy cảm xúc.

Vi mô hơn thì có Kotex sau thời kỳ nhấn mạnh vào các tính năng đặc trưng về thấm hút, bắt đầu cho ra đời các thể loại Kotex Pro cho chị em văn phòng, Kotex xì tin cho giới trẻ luôn muốn khẳng định mình. Mỗi thương hiệu con đều mang một “nhân cách thương hiệu” riêng, đánh trúng vào những ước muốn của đối tượng tiêu dùng mục tiêu. Ai bảo một sản phẩm như băng vệ sinh không có nhiều cái để nói nào?

Kaspersky là một phần mềm diệt virus đang rầm rộ tiến vào Việt Nam. Thay vì dài dòng nói lên những ưu việt trong việc diệt virus của mình, chỉ bằng một thông điệp đơn giản họ đã đánh đúng vào điều khách hàng mục tiêu quan tâm và e ngại: Bạn muốn mất 61.000 file dữ liệu một phút hay 16.000 VND/tháng cho phần mềm anti –virus? Nói như thế vừa kích động nỗi lo ngại của người tiêu dùng về việc tính an toàn của dữ liệu, vừa chỉ cho họ thấy Kaspersky là một món hời nên đầu tư.

Comfort cũng là một tình huống thành công khi đưa cảm xúc vào hình ảnh thương hiệu, với hình ảnh thiên thần hương dễ thương gây nhiều thiện cảm. Gần đây nhất Sunsilk – thương hiệu cùng tập đoàn cũng ra quân rầm rộ trong chiến dịch “Sống là không chờ đợi” cổ vũ cho một phong cách dám nghĩ, dám làm của những cô gái trẻ hiện đại. Trường hợp của Sunsilk, một lần nữa cho thấy hướng đi chung trong định vị các thương hiệu của tập đoàn Unilever: Tiến dần từ functional marketing (định hướng trên tính năng) đến emotional marketing( định hướng trên cảm xúc). OMO từ tẩy trắng đến gắn với tính học hỏi của trẻ em, Lipton từ món giải khát đến kích thích sự sáng tạo, Sunsilk từ suôn mượt dần gắn với ước mơ, phong cách sống, Dove từ việc làm mịn da đến tôn vinh vẻ đẹp phụ nữ các kiểu… Tuy nhiên tôi tin rằng Sunsilk Việt Nam chưa thấy tự tin trong lòng khi triển khai chiến dịch “Sống là không chờ đợi”, bằng chứng là cách họ luôn đổ cho “Đó là chiến dịch toàn cầu của Sunsilk và VN là một mắt xích”. Nhưng những phản hồi thời gian qua về cảm nghĩ của khách hàng, về doanh số… đã chứng minh kết quả cũng không tệ lắm, bước đầu đã trấn an được những e ngại rằng tiến hành thời điểm này là chưa đúng lúc vì thị trường VN có nhiều điểm chưa được như thế giới để áp dụng vào.

Lúc nào cần làm emotional marketing ?

Như đã nói ở trên, thực ra emotional marketing không phải là mốt như nhiều người lầm tưởng. Không phải là bây giờ mới có emotional marketing còn trước kia không có, và thương hiệu nào không emotional marketing thì là nhà quê. Ví dụ như không phải Sunsilk bây giờ mới emotional marketing thì những người làm marketing cho Sunsilk tụt hậu so với người anh em OMO cùng tập đoàn đã thực hiện emotional marketing cách đây chừng 4, 5 năm. Emotional marketing chỉ là một giai đoạn tiến hóa trong quá trình marketing sản phẩm, song song với mức độ thâm nhập của sản phẩm và sự phát triển trong tư duy của khách hàng mục tiêu. Không phải cứ thấy mọi người làm thì mình cũng phải đua đòi theo, làm mà không tới thì chẳng khác gì chiếc áo may dở chắp vá lỗ chỗ. Bên cạnh nhân tố nguồn lực như hầu bao đầy, làm bài bản, chuyên nghiệp còn phải kể đến định hướng, tầm nhìn của người chủ thương hiệu làm sao xác định được con đường mà thương hiệu đã và sẽ đi.

Tất nhiên những người cho rằng emotional marketing là trào lưu của thời đại cũng có cái lý của họ. Khi mà sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, không phải lúc nào trắng sạch với bóng mượt cũng gây cho họ chú ý. Làm sao để làm cho mình nổi bật giữa một rừng tính năng mà các đối thủ cạnh tranh chào mời khách hàng, đó là một bài toán khó, và đánh vào cảm xúc chính là một lối đi riêng và là xu thế tất yếu có thể làm bản sắc thương hiệu tỏa sáng được.

Tuy nhiên chúng ta không nên quên rằng muốn xây nhà phải có móng. Nếu người tiêu dùng chưa biết gì về background của sản phẩm, dịch vụ thì có tác động mấy đến tình cảm cũng không làm họ đặt niềm tin vào chúng. OMO không còn nói trắng sạch nữa mà nói về việc khuyến khích tìm tòi của con trẻ, cũng dựa trên nền tảng là các bà nội trợ đã hoàn toàn tin OMO tẩy trắng tốt, Honda nói “Tôi yêu Việt Nam” mà gây cho người tiêu dùng nhiều xúc động cũng phải dựa trên một bề dày gắn bó với người dân đất Việt, Prudential từ những ngày đầu bước chân vào thị trường, một mặt vừa hô to “Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu”, một mặt nỗ lực thực hiện điều đó qua các hoạt động marketing nhất quán, chất lượng dịch vụ, các hoạt động vì cộng đồng… chứ không phải phát biểu hay thế thì người ta tin ngay mình. Trước khi Biti’s nói câu “Nâng niu bàn chân Việt” lay động lòng người họ cũng đã là một thương hiệu nhiều năm uy tín. Tiếc rằng sau khi nói câu đó xong Biti’s lại im lặng luôn làm cho người tiêu dùng nhớ nhớ quên quên bây giờ không còn biết là Biti’s có nâng niu bàn chân họ nữa không, đây là một ví dụ cho quan điểm “đã làm thì phải làm cho tới” mà người viết vừa nêu ở trên.

Vậy khi nào nên làm emotional marketing, bây giờ lúc mới tung sản phẩm hay bao giờ? Người viết cho rằng lúc nào cũng được, tùy cách thức bạn định hướng cho thương hiệu của mình, nếu thấy cần thiết thì làm nhưng đã làm thì phải bài bản, có tính chiến lược và nhất quán. Nếu bạn sắp tung một sản phẩm như Knorr muốn đánh vào tình cảm dành cho gia đình của những bà nội trợ, hãy chắc chắn là bạn hiểu họ nghĩ gì và diễn tả đúng mong muốn đó thì mới lay động được xúc cảm của họ. Đó là bữa cơm ngon cho gia đình, đó là cảm giác hạnh phúc được chăm sóc chồng con. Các TVC, event đến activation đều phải tập trung truyền bá thông điệp đó cho họ “thấm”, chứ không phải hôm nay nói về người phụ nữ của gia đình, còn ngày mai lại nói về các xu hướng nấu ăn mới chẳng liên quan gì đến “cảm xúc” mà bạn muốn truyền cho họ.

Cho nên, hoặc trước hết ta hãy gầy dựng niềm tin của khách hàng, sau đó mới thêm vào cảm xúc, hoặc vừa xây dựng cảm xúc và niềm tin, chỉ khi có đủ hai yếu tố đó thì mới đảm bảo chiếm trọn tình cảm của khách hàng./

Thuật ngữ trong tổ chức event

05/04/2008 7 comments

Thu thập từ nhiều nguồn

5.1 (Dolby Digital Audio Codec) – Dàn Âm thanh có 6 kênh khác nhau: trái, phải, trung tâm, surround trái, surround phải, loa sub…

35 mm – Cỡ phim tiêu chuẩn trong quay phim

Audio Conferencing – Trong hội nghị kiểu này, 1 bên thứ 3 ở ngoài phòng hội thảo có thể tham dự thông qua đường line điện thoại analog.Giao tiếp trong hội nghị kiểu này có thể là 1 chiều hoặc tương tác.

Auditorium – 1 phòng hội nghị bố trí ngồi theo kiểu theater để coi phim, thuyết trình thông qua các phương tiện truyền thông đa phương tiện, thuyết trình live hoặc là các hình thức khác.

Podium: Cái bục phát biểu

Theater, classroom/ U – shape/ round – shape/ V-shape/hollow square set up: Các hình thức bố trí chỗ ngồi trong khách sạn, theater là kiểu rạp hát, ko có bàn, classroom là có bàn, U – shape là hình chữ U, round shape là hình tròn, V-shape là xếp hình chữ V, hollow square là set up ghế xung quanh 1 cái bàn vuông or chữ nhật, cái bàn đó đc gọi là cái hollow.

Flip chart: Cái chân đế để những tờ giấy khổ A2 lên, có thể lật được như kiểu lịch treo tường, dùng cho thuyết trình.

Lav mic: (lavalier microphone, hay pendant mic, necklace mic, lapel mic) Mic ko dây tí hon đeo ở cổ hoặc ve áo

Guiding board: Cái bảng chỉ dẫn (chỉ đến nơi tổ chức sự kiện)

Projector: Máy chiếu, có overhead projecter là máy chiếu dùng phim, giờ ít xài, LCD projector là loại phổ biến hay dùng ở hội thảo, sự kiện, DLP projector dùng công nghệ DLP, cơ động, hình mịn nhưng màu sắc ko đẹp, thường dùng chiếu phim ở nhà.

Agenda: Lịch trình những thứ cần phải làm, ví dụ event agenda là kịch bản chương trình.

AV system (Audio visual system): Hệ thống âm thanh ánh sáng

Audio visual aids : Phụ kiện nghe nhìn, ví dụ phim, projector, loa, flip chart….

Banquet event order (BEO): tạm hiểu là 1 bản tóm tắt liệt kê chi tiết các vật dụng chuẩn bị cho event ví dụ set up phòng thế nào, đồ ăn thức uống ra sao

F&B (Food and beverage): Đồ ăn thức uống

Budgetary philosophy: Bản tính toán tài chính, dự trù về lời, lỗ… trong 1 event

Revenues and expenses: Các khoản thu chi

Cash bar : quầy bar set up riêng cho những khách có nhu cầu dùng đồ uống riêng, dùng xong thì phải tự trả xiền, phân biệt với host bar, còn gọi là open bar hay sponsored bar uống free.

Concurrent session : Các session (phần) khác nhau diễn ra đồng thời, trong event ví dụ như nhiều hoạt động, nhiều chủ đề khác nhau cùng diễn ra 1 lúc.

Contingency plan:: Kế hoạch sơ cua có thể thay thế kế hoạch ban đầu nếu bất ngờ có thay đổi gì đó.

Corner booth: Gian hàng ở góc, có ít nhất 2 mặt trở lên

Island booth : Gian hàng có nhiều hơn 4 mặt

Peninsula booth: gian hàng kép gồm ít nhất 2 gian với vách ngăn ở 3 mặt, có 1 mặt gắn với các gian khác

Critical path : 1 danh sách liệt kê các cột mốc hoặc kết quả cần đạt được để hoàn thành 1 kế hoạch nào đó.

Crowd control : Bản hướng dẫn cung cấp cho người tham gia hướng dẫn họ di chuyển có trật tự tránh ắc nghẽn

Delegate: Từ dùng để chỉ người có đăng ký tham dự hoặc đại biểu được bình chọn trong 1 hội thảo, meeting…

Emergency action plan: Kế hoạch hành động khẩn cấp, hay kế hoạch đối phó rủi ro, chỉ ra những gì cần làm khi có các tình huống rủi ro như cháy, ngộ độc thực phẩm, bị đánh bomb…

Floor plan: Layout bố trí các vật dụng tại địa điểm tổ chức sự kiện ví dụ bàn ghế, gian hàng, toilet…

Follow-up
: các hoạt động xảy ra sau event, phân biệt với Evaluation nghĩa là rút kinh nghiệm, đánh giá sau event.

Follow spotlight: Đèn polo điều khiển bằng tay tập trung chiếu theo vật cần chiếu

Front screen projection – chiếu trước, dùng projector đặt trước màn hình và chiếu thẳng lên màn hình
Rear screen projection – chiếu sau, dùng projector đặt sau màn hình và chiếu phía sau màn hình, cách này để tránh các chướng ngại vật lướt qua projector khi chiếu trước màn hình.

Gooseneck: Giá đỡ trên cái bục phát biểu để đặt mic, có thể điều chỉnh ngắn dài tuỳ ý

Honored guest : VIP phát biểu tại event, nhưng ko phải người tham dự

Indirect cost: Chi phí gián tiếp hay còn gọi là overhead cost hay

In-kind : Việc đóng góp hàng hoá, vật chất ko liên quan đến tiền, ví dụ tài trợ in -kind

Inside booth hay Inline booth: Khoảng ko gian dành để trưng bày trong 1 gian hàng

Installation: Việc lắp đặt

Badge: Huy hiệu, phù hiệu, thẻ

Lanyard: dây đeo ở cổ, dùng để treo cái badge (thẻ)

Liability : Trách nhiệm pháp lý, liên quan đến các thiệt hại hay thương vong trong 1 event.

Logistics: Những việc cần thực hiện để đảm bảo việcqua3n lý hiệu quả các vật dng5, thông tin và con người trong việc tổ chức 1 event.

Marshalling yard – nơi xe tải có thể vào và đợi trước khi chuyển hàng vào khu vực triển lãm

Masking drapes – vải dùng để phủ kho chứa và những khu vực ko muốn mọi người nhìn vào

Foyer: Cái sảnh

Table cloth: Khăn trải bàn

Chair cover: Khăn phủ ghế

Place cards: Vật chỉ dẫn dành để ghi tên khách tham dự, để trên bàn, thường có dạng cards

Move – in: Quy trình dựng lên 1 triển lãm, move – out quy trình tháo dỡ

Onsite: tại nơi diễn ra event

Onsite registration: Đăng ký ngay tại chỗ tại nơi diễn ra event hoặc ngày diễn ra event, khác với pre registration: đăng ký trước

Physical requirements : Những yêu cầu liên quan đến kiến trúc, bài trí, nhiệt độ… để đáp ứng yêu cầu của 1 event.

Plenary assembly: Phiên họp toàn thể

Post event meeting: Họp sau chương trình, pre event meeting: họp trước chương trình

Power drop: Nơi đặt đầu ra của điện (để phục vụ cho việc cung cấp điện đến các thiết bị cần thiết trong event)

Print broker: Người chịu trách nhiệm các vấn đề liên quan đến in ấn

Reader board bảng hay bảng điện tử liệt kê các event trong ngày tại địa điểm

Ready room phòng để gặp gỡ, nghỉ ngơi, test âm thanh ánh sáng hay chuẩn bị trước và trong event

Rider Chi phí chi trả hoặc sự đáp ứng các yêu cầu cho nghệ sĩ bên ngoài hợp đồng, để họ đến diễn trong event, bao gồm chi phí đi lại, ăn uống, yêu cầu về sân khấu…

Confetti canon: Máy bắn kim tuyến

Greeting gate: Cổng chào

Banquet hall: phòng tiệc lớn Banquet room: phòng tiệc

Rounds: bàn tiệc tròn, thường ngồi 8 – 10 người

Theme event: Event có chủ đề, torng đó đồ ăn,desgn, giải trí đều theo 1 mô típ riêng

Turnover : Tái set up lại căn phòng theo 1 kiểu khác, ví dụ khách họp xong thì set up phòng họp theo kiểu khác để làm phòng tiệc.

Wings: Cánh gà sân khấu

Vài nét về Advertorial

26/12/2007 16 comments

Banhbeo’s blog –  Nếu làm trong nghành PR, chắc chắn bạn sẽ biết đến khái niệm advertorial. Đó là gì vậy? Xin thưa, Advertorial bản chất là mua trang quảng cáo nhưng viết bài theo kiểu PR ( viết tắt của advertisement và editorial). Bánh bèo xin chia sẻ 1 số kiến thức về advertorial.

Ưu điểm ở đây là các doanh nghiệp có thể chuyển tải thông tin, hình ảnh một cách đầy đủ nhất đến độc giả- là khách hàng tiềm năng- mà không lo ban biên tập của tờ báo chỉnh sửa, cắt xén nội dung…! Và đã book editiorial thì bạn sẽ không thấp thỏm lo bài hổng được đăng .
Tuy nhiên, so với cách PR truyền thống như đưa tin, bài viết, phỏng vấn… hình thức Advertorial thường có độ tin cậy kém hơn. Bài editorial (do phóng viên viết ) thì khách quan hơn bài advertorial. Bạn không thể can dự nhiều vào bài editorial ( thực tế nó có khác hay không thì …còn tùy, thường thì sự can dự cũng chỉ dựa trên quan hệ với phóng viên hay nhờ agency chứ trên nguyên tắc bạn không thể yêu cầu tòa soạn edit thông tin theo yêu cầu của bạn). Xem chi tiết…

Thuật ngữ marketing (chữ A)

29/11/2006 2 comments

Mới dịchđược nhiêuđây, khi nào rảnh sẽ dịch tiếp phục vụ bà con

Above the line: thuật ngữ dùng để chỉ các hình thức quảng cáo phải trả tiền và phải có hoa hồng cho đại lý quảng cáo. Các phương tiện chính là TV, radio, báo tạp chí và internet.
Acceptable price range: hạn mức giá cả có thể chấp nhận được – nếu bán dưới giá này người mua sẽ lưỡng lự vì e sợ hàng dổm nhưng nếu cao hơn thì lợi ích mong đợi từ sản phẩm sẽ không tương xứn với cái giá người tiêu dùng phải trả.
Access barriers: các rào cản thâm nhập (thị trường) – các nhân tố như thuế má và các quy định luật pháp ngăn trở doanh nghiệp với khách hàng tiềm năng làm thu nhỏ quy mô thị trường
Accesibility: có thể tiếp cận được – một trong bốn nhân tố giúp phân khúc thị trường hiệu quả ( bên cạnh measurability, substantiality, actionability). Nhân tố accesibility muốn lưu ý rằng nhóm khách hàng mà doanh nghiệp lựa chọn phải có thể tiếp cận đến để phục vụ được.
Account executive/ account manager: những người chịu trách nhiệm quản lý thông tin và giao dịch của một hoặc một nhóm khách hàng.
Accontant”marketing: thuật ngữ thường dùng để chỉ phương cách marketing đề cao những mục tiêu ngắn hạn mà xem nhẹ sự phát triển lâu dài và bền vững.
Action Plan /Action Program : kế hoạch hành động – một kế hoạch cho thấy những công việc marketingchính yếu nào cần được giám sát và triển khai, thời gian thực hiện…
Actionability : một trong bốn nhân tố giúp phân khúc thị trường phân khúc thị trường hiệu quả ( bên cạnh measurability, substantiality, actionability). Nhân tố accesibility muốn lưu ý rằng nhóm khách hàng mà doanh nghiệp lựa chọn phải có thể tiếp cận đến để phục vụ được.
Active Listening: nghe một cách chủ động – lắng nghe ý kiến của khách hàng, bao gồm cả yêu cầu phân tích đánh giá trong quá trình nghe đối với nhân viên kinh doanh bán hàng.
Ad: mẩu quảng cáo nhỏ
Ad Hoc Marketing Research: Nghiên cứu những tình huống đặc thù trong marketing
Adaptive Selling: Chiến thuật bán hàng kiểu thích nghi – đòi hỏi người bán phải hoà nhập lối sống của mình với khách hàng để tối đa hoá hiệu quả hoạt độn
Added Value : giá trị cộng thêm
Administered Prices: giá của nhà quản trị – giá định hướng vào chi phí theo quan điểm của doanh nghiệp mà không cần xem xét đến cảm nhận của khách hàng.
Administered Vertical Marketing System: Hệ thống marketing theo chiều dọc – cách thức tổ chức hệ thống phân phối mà theo đó dòng sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu thụ cuối cùng thông qua một hệ thống thống nhất. Nó khác với hệ thống marketingngang là do 2 hay nhiều công ty cùng hợp lực để khai thác các khả năng marketing đang mở ra.

Adversarial Shopper: Những người luôn mong muốn có được giá trị cao với giá cả thấp, luôn mặc cả khi mua hàng.
Advertising: quảng cáo
Advertisment: mẩu quảng cáo
Advertising Agency: đại lý quảng cáo – một công ty chuyên về thiết kế, sáng tạo và đặt chỗ quảng cáo trên các phương tiện truyền thông, thường thì người ta dùng tiếng Anh luôn chứ ít dịch ra tiếng Việt
Advertising Allocation /Advertising Budget: Ngân sách quảng cáo
Advertising Copy : Nội dung chứa trong một mẩu quảng cáo
Advertising Effectiveness: hiệu quả của quảng cáo – thường đo lường dựa trên các tiêu chí : doanh sô bán hàng, mức độ nhận biết thương hiệu,
Advertising Media: (số nhiều, số ít là advertising medium) phương tiện quảng cáo – báo, tạp chí, poster v.v.
Advertising Message : thông điệp quảng cáo
Advertising Objectives: mục tiêu quảng cáo – quảng cáo thông báo, quảng cáo thuyết phục hay quảng cáonhắc nhở.
Advertising Planning Process: Quy trình lập kế hoạch quảng cáo
Advertising Research: nghiên cứu khảo sát quảng cáo gồm các giai đoạn: nhận dạng khách hàng mục tiêu, đề ra mục tiêu, hoạch định ngân sách, chọn phương tiện truiyền thông thích hợp và đo lường hiệu quả quảng cáo.
Advertising speciality: đặc phẩm quảng cáo như móc khoá, bút bi…có in logo hay thông tin quảng cáo về công ty
After-sales service: dịch vụ hậu mãi
After-the-Fact Control System See Adaptive Control System; Marketing Control System; Reactive Marketing Control System; Steering Control System.
Agent : đại lý bán hàng
Agribusiness: marketing thức ăn và những sản phẩm có nguồn gốc thực vật
AIDA Concept: Công thức AIDA – công thức dùng trong việc bán hàng, bao gồm tạo sự nhận biết (Aware), thu hút sự quan tâm (lnterest), kích thích sự mong muốn(Desire) và khuyến khích hành động (Action), tức là mua.
Aided Recall Test # Unaided recall test : thuật ngữ thường dùng trong khảo sát nghiên cứu marketing. Để đo lường hiệu quả quảng cáo, người ta dùng phương pháp kiểm tra người được phỏng vấn (đáp viên) được nhìn thấy sản phẩm, nhãn hiệu…để khơi dậy trí nhớ và sự nhận biết
Air time: khoảng thời gian dành quảng cáo trên phương tiện truyền thông như TV và radio
AIO Statements: công thức AIO – biểu lộ thái độ (Attitude), sự quan tâm (lnterest) và ý kiến (opinion) về sản phẩm.
All-We-Can-Afford Method: còn gọi là What -we-can-afford Method – một phương pháp định ngân sách cho hoạt động marketing dựa vào khả năng tài chính của cty.
Allowances: khoản chiết khấu – dùng để chỉ khoản tiền cty bớt cho đối tác vì thanh toán tiền sớm, mua hàng với số lượng nhiều
Alternative Advertising: Việc quảng cáo không dựa vào các phương tiện truyền thống
Alternative Close: kết thúc bằng lựa chọn – dùng trong bán hàng để chỉ cách thức người bán kết thúc việc chào hàng của mình bằng cach đưa ra cho khách hàng 2 sự lựa chọn để buộc họ phải chọn một trong hai. Ví dụ: “Bà lấy cái màu đỏ hay màu xanh?”
Alternative Media: phương tiện truyền thông không mang tính truyền thống, ví dụ catalogue điện tử…
Area Market Specialist: người phụ trách khu vực – giám đốc marketing có am hiểu sâu sắc về địa phương nào đó thì được giao quản lý hoạt động marketingở địa phương đó
Art director: giám đốc mỹ thuật, chịu trách nhiệm về những công việc liên quan đến sáng tạo ở các cty quảng cáo
At-Home TV Shopping: hình thức mua bán qua truyền hình – khán giả xem giới thiệu sản phẩm trên truyền hình rồi đặt mua qua điện thoại, thanh toán bằng thẻ tín dụng
Attitude Tracking: việc đo lường mức độ thoả mãn thông qua thực tế cảm nhận của khách hàng
Attitudes: thái độ của khách hàng (đối với sản phẩm, thương hiệu)

Một số thuật ngữ ngành PR

29/11/2006 4 comments

Press release/News release: Thông cáo báo ch
Media kits/press kits: Những tài liệu thường đính kèm thông cáo báo chí để hỗ trợ thông tin cho thông cáo báo chí, dành để gửi cho phóng viên. Bao gồm tiểu sử công ty, giới thiệu về sản phẩm, hình ảnh hoạt động, hình ảnh sản phẩm…Người ta cũng có thể đưa media kits lên website của công ty cho phóng viên tiện truy cập và sử dụng.
Letter to editor : Thư ngỏ, thường gửi cho tổng biên tập, phóng viên, biên tập viên…Người ta thường gửi thư ngỏ kèm thông cáo báo chí. TRong thư ngỏ giới thiệu sơ qua về bản thân, công ty, sản phẩm, dịch vụ, sự kiện sắp diễn ra hoặc sự kiện cần đưa tin , viết bài. Thường là phải nêu 1 số lý do thuyết phục toà soạn đăng bài, chẳng hạn như đây là sự kiện nóng hổi mà bất cứ độc giả nào của quý báo cũng quan tâm.Đôi khi ngươời ta còn gọi đây là Cover letter.
Press conference: Buổi họp báo, các công ty thường tổ chức họp báo khi sắp sửa tung SP mới, khi cty gặp khủng hoảng cần đưa tuyên bố chính thức của cty  ra dư luận..
Media list: Danh sách truyền thông. Để thông điệp của cty tiếp cận đúng đối tượng khán giả mục tiêu, người làm PR cần khoanh vùng các phương tiện truyền thông , báo chí thích hợp trong 1 danh sách.
Press cliping service: Tạm dịch là dịch vụ thu thập thông tin. KHi công ty muốn nắm tin tức hàng ngày từ các phương tiện truyền thông, thì thường lựa chọn hình thức “nhờ đọc tin tức dùm”. Các công ty cung cấp dịch vụ này sẽ gửi đến cty những bản scan, bản copy các bài báo theo những thông tin mà cty yêu cầu. Nhờ những thông tin này, không cần mua báo về và tốn thời gian đọc, cty vẫn có thể nắm bắt nhanh nhạy các thông tin về cty và đưa ra hành động ứng phó kịp thời nếu đó là tin xấu
Advertorial: Những bài báo thương mại, là khái niệm chỉ việc cty mua trang trên các báo để đưa những thông tin mình cần đưa. Các công ty thường trình bày advertorial theo   phong cách một bài báo thông thường, đôi lúc thông tin “trông có vẻ” khách quan để tăng sức thuyết phục, khác với hình thức quảng cáo là công khai tung hô về mình.(Tuy nhiên 1 số bài advertorial trên báo chí VN hiện nay đọc vào là biết có mùi quảng cáo, cái đó thì miễn bàn ở đây).
Above the line campaign: 1 chiến dịch marketing chỉ dùng quảng cáo
Below the line campaign: 1 chiến dịch marketing ko dùng quảng cáo, thay vào đó là các hình thức xúc tiến khác như PR, marketing trực tiếp, khuyến mãi…
Sector/trade press: tạm dịch là báo chí dành cho các đối tượng độc giả chuyên biệt, ví dụ tờ Ô tô việt Nam dành cho đối tượng độc giả là những người quan tâm đến ô tô như người SX, buôn bán  ô tô, người mê ô tô…
Teaser: Hoạt động lôi kéo sự chú ý, tò mò của khán giả trước 1 chiến dịch PR.